Dụ Ngôn Hai Người Con

26th Sunday Ordinary

Qúy Ông Bà Anh Chị Em thân mến,                                                                                      Trong cách suy nghĩ hiện nay, chúng ta thường giải thích dụ ngôn ‘Hai người con’ như là việc Thiên Chúa ân thưởng cho những việc làm hơn là những lời nói suông.

Lời nói thì không gía trị gì, chỉ có việc làm mới là quan trọng. Đôi khi tôi nghe các người vợ phàn nàn về chồng mình là : “chồng của con cứ nói : anh yêu em lắm, nhưng lại chẳng bao giờ mua lấy cho con một bó bông hồng hay là đưa con đi ăn một bữa tối riêng tư hai vợ chồng”. Tôi thiết nghĩ, các ông các anh cũng nên thỉnh thoảng mua bông hồng tặng cho vợ mình. Đừng chờ đến dịp Lễ Valentine mới mua bông tặng vợ nhé! Các ông các anh nghĩ sao? Chúng ta có thể làm được điều này không nào ?

Dụ ngôn hai người con trong bài Tin Mừng hôm nay mới đầu xem ra như một dụ ngôn đả kích thói giả hình. Thế nhưng dụ ngôn  còn nói lên một điều gì  hơn thế nữa.

Cũng giống như các dụ ngôn khác của Chúa Giêsu, dụ ngôn này nói về Nước Thiên Chúa. Những người tự nhận mình đạo hạnh đã coi các người thu thuế và đĩ điếm là hạng không thanh sạch, và vì thế  là hạng người bị loại khỏi Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã xoay ngược lại chỗ đứng củanhững người bị loại bỏ qua hình ảnh người con trong dụ ngôn lúc đầu từ chối đi làm việc trong vườn nho của cha mình, nhưng sau đó anh hối hận và làm theo lời cha. Chúa Giêsu cũng đảo ngược lại vị thế của các tư tế và kỳ lão qua hình ảnh người con vâng vâng dạ dạ với cha mình nhưng sau đó lại không làm theo ý cha.

Trong văn hóa của người vùng Trung Đông thì dụ ngôn này vẫn tiếp tục gây nhiều tranh cãi. Môt vị thừa sai đã thuật lại là khi được hỏi trong hai người con, người nào là người con ngoan, thì các người vùng Trung Đông đều trả  lời là người con thứ hai. Vì sao lại là người con thứ hai? Họ cho biết vì anh ta đã trả lời với cha mình một cách lễ độ. Thực vậy, có một vài bản văn cổ của đoạn Tin Mừng này đã chọn người con thứ hai là người con ngoan. Lời người con thứ hai trả lời cha mình :”Thưa Ngài, con xin vâng”, là ngôn từ trang trọng và đầy kính trọng của một người con đối với cha mình, thế nhưng sự kính trọng này lại không đưa đến việc vâng phục làm theo lời cha.

Chúa Giêsu không hỏi đám đông dân chúng :”Người con nào tôn kính cha mình?” Khi kết thúc câu chuyện trong dụ ngôn, Chúa Giêsu  không nêu bật lên lời nói suông hay là việc làm, mà là sự hối cải. Người cho thấy sứ vụ của Thánh Gioan tẩy giả gắn liền với sứ vụ của Người. Thánh Gioan đến để dọn đường cho Chúa Giêsu và thực hiện những điều công chính.

Những người thu thuế và đĩ điếm, tuy rằng họ đã không tuân giữ các lề luật của Chúa, nhưng họ đã tin vào lời Thánh Gioan loan báo về Nước Thiên Chúa. Họ đã nghe lời ông kêu gọi và tỏ lòng sám hối. Trái lại, những người chức sắc trong đạo Do thái lúc bấy giờ, là những người đã học hỏi  và tuân  thủ lề luật một cách kỹ lưỡng, họ từ chối lời loan báo của Thánh Gioan và của Chuá Giêsu về Nước Trời.Lẽ ra họ phải nhìn thấy việc những người thu thuế và đĩ điếm ăn năn hối cải như một dấu chỉ cho thấy Nước Trời đã gần bên.

Trong Tin Mừng Matthêu, Chúa Giêsu nói:” Không phải những người nói với tôi : Lạy Chúa, Lạy Chúa, là được vào Nước Trời, nhưng là những ai thực hiện ý muốn của Cha trên trời mới được vào nước trời”. Và trong Tin Mừng Thứ Tư, Thánh Sử Gioan nói với chúng ta rằng ý của Chúa Cha là :”ai trông thấy Con và tin Nguời Con ấy sẽ được hưởng sự sống đời đời”. Suy xét cho cùng, vâng theo Chúa Cha chính là sám hối và tin vào Chúa Giêsu.